Sử dụng thuốc trị viêm mũi dị ứng đúng cách

Các thuốc gì được chỉ định trong điều trị bệnh viêm mũi dị ứng? Cách sử dụng thuốc thế nào để đạt hiệu quả mà không gây hại?
Bệnh viêm mũi dị ứng tuy không thể chữa khỏi nhưng nếu chúng ta biết sử dụng thuốc điều trị đúng cách và đúng kỹ thuật sẽ kiềm chế được đáng kể các triệu chứng của căn bệnh này. Các thuốc thường được sử dụng trong chua viem mui di ung gồm nhóm kháng histamin chống ngứa mũi, sổ mũi; nhóm thuốc làm co mạch chống nghẹt mũi ; nhóm corticoid dùng để hít . Bên cạnh những tác dụng mà thuốc mang lại thì nó cũng còn một số nhược điểm mà nếu chúng ta sử dụng không đúng cách rất nguy hại cho sức khỏe. Vì vậy bạn cần nắm vững kỹ thuật dùng thuốc cũng như sử dụng thuốc đúng liều lượng.
 

SỬ DỤNG THUỐC TRỊ VIÊM MŨI DỊ ỨNG ĐÚNG CÁCH

Nhóm kháng histamin

Chống ngứa mũi, chảy nước mũi, chảy nước mắt nhưng không làm co mạch nên không chống được nghẹt mũi. Dùng thế hệ cũ (chlopheniramin) gây buồn ngủ, không dùng được cho người lái xe, vận hành máy, cần tập trung. Dùng thế hệ mới (claritin, acrivastin) không gây buồn ngủ, tiện lợi hơn.

Nhóm chống nghẹt mũi

Natrichlorid: dung dịch natriclorid đẳng trương (0,9%) làm co mạch nên chống được nghẹt mũi. Không độc. Dùng cho người lớn, trẻ em, kể cả sơ sinh.

Naphazolin: làm cường giao cảm gây co mạch tại chỗ ở mũi nên chống nghẹt mũi. Dùng dạng nhỏ mũi 0,05 – 0,1% cho người lớn. Với trẻ em: cũng gây cường giao cảm nhưng mạnh hơn, trước hết tác dụng tại chỗ gây co mạch mạnh, làm cho máu không đến niêm mạc mũi, gây hoại tử; sau đó hấp thu vào bên trong, gây nhức đầu, chóng mặt, tăng huyết áp, tim nhanh, kích động, lo âu; đặc biệt là gây co mạch ở não, tim, da đầu có thể dẫn đến tử vong.

Không dùng cho trẻ em dưới 15 tuổi.

Xyclomethazolin: do làm co mạch nên chống nghẹt mũi. Dùng cho người lớn hay trẻ em nhưng không quá 3 ngày. Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi.

Phenylephrin: làm tăng tiết adrenalin gây hiện tượng adrenegic làm co mạch, giảm xung huyết, chống nghẹt mũi. Tuy nhiên, cũng do hiện tượng này mà làm tăng huyết áp, tăng nhãn áp, không dùng được cho người bị bệnh tăng huyết áp người đang dùng thuốc trầm cảm IMAO. Trẻ em rất nhạy cảm với phenylephrin, nhất là khi trẻ tự dùng mà không kiểm soát được liều, sẽ gây độc tại chỗ cũng như toàn thân. Tuy nhiều tài liệu chỉ cấm dùng cho trẻ em dưới 3 tuổi, cho phép dùng cho trẻ lớn tuổi với nồng độ thấp hơn, nhưng đa số thầy thuốc lâm sàng đều khuyên không nên dùng cho trẻ em. Người lớn mỗi lần chỉ dùng một bên mũi, mỗi ngày không dùng quá 5 lần.

Đặc điểm chung của nhóm thuốc cũ chỉ giảm được một số triệu chứng, gây “quen” thuốc, thậm chí gây phản ứng “dội ngược” thuốc, làm cho bệnh nặng thêm. Tuy nhiên, vì thuốc rẻ tiền, thấy hiệu quả ngay tuy tạm thời, nên hiện vẫn dùng khá phổ biến.

Nhóm corticoid hít

Dùng corticoid uống kéo dài, liên tục có thể đỡ bệnh, nhưng corticoid ngoại lai này sẽ ức chế tuyến yên, không cho tuyến yến tiết ra hormone hướng thượng thận. Tuyến thượng thận lâu ngày không hoạt động sẽ bị teo, không còn chức năng tiết ra corticoid nội sinh. Khi ngừng dùng corticoid ngoại lai, cơ thể bị thiếu corticoid nội sinh đột ngột sẽ bị suy thượng thận cấp, nếu nặng không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Vì thế không thể dùng corticoid uống kéo dài liên tục để chữa VMDU.

Dùng các corticoid tổng hợp fluticason, beclomethason, budesonid dưới dạng hít hay dạng khí dung (gọi chung là corticoid hít) thì thuốc sẽ có tác dụng tại chỗ rất mạnh, làm giảm các chất trung gian gây viêm, nên làm giảm ngứa, hắt hơi, chảy nước mũi, chảy nước mắt, phù niêm mạc, ngạt mũi. Một phần rất nhỏ thuốc (khoảng 10%) có thể từ đường mũi đi vào bên trong cơ thể nhưng vì các corticoid này chuyển hóa rất nhanh tại gan thành các chất không có hoặc có tác dụng sinh học rất thấp nên sinh khả dụng toàn thân thấp, không gây độc toàn thân như khi uống. Như vậy, các corticoid hít này có sự cân bằng độc đáo giữa hiệu lực chữa bệnh viêm mũi dị ứng và độ an toàn.

Dùng dạng hít hay dạng khí dung (phủ hạt nhỏ như sương) vào niêm mạc mũi. Corticoid hít thường có hiệu lực ngay trong vòng 24 – 48 giờ. Tuy nhiên để có hiệu lực đầy đủ cần một khoảng thời gian cần thiết (chẳng hạn như 2 – 4 ngày với fluticason, 3 – 7 ngày với bude sonid). Cần điều trị đều đặn theo khoảng cách giữa các lần dùng thích hợp mới có hiệu quả. Chẳng hạn như với fluticason dùng mỗi ngày 2 lần (8 giờ sáng và 8 giờ tối, sau đó có thể duy trì liều thấp hơn mỗi ngày 1 lần).

Để thuốc sớm có hiệu quả lúc khởi đầu, có thể dùng corticoid hít phối hợp với các thuốc kháng histamin, giãn phế quản, coricoid uống; sau đó có thể ngừng các thuốc phối hợp này, chỉ duy trì bằng corticoid hít.

Corticoid hít không độc nhưng cũng có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn như: đau đầu, viêm họng, kích ứng mũi, hắt hơi, ho, buồn nôn, nôn, chảy máu cam, phát ban da, ngứa, sưng mặt, sốc phản vệ, nhưng ít gặp.

Dạng thuốc hít nếu dùng kéo dài kèm theo corticoid uống cũng có thể bị ngộ độc toàn thân, biểu hiện: cường vỏ thượng thận, nếu ngừng ngay thuốc uống lại có thể gây suy thượng thận. Cần cẩn thận khi phối hợp với corticoid uống trong trị viêm mũi hay với người viêm mũi có kèm thêm hen (như nói trên).

Với người mang thai cho con bú: corticoid gây hại thai, tiết vào sữa gây hại trẻ bú. Tuy nhiên, với corticoid hít chưa thấy hiện tượng này nên vẫn có thể dùng cho người có thai cho con bú. Không dùng corticoid hít chữa VMDU cho trẻ em dưới 12 tuổi, riêng beclomethason không dùng cho trẻ dưới 6 tuổi. Corticoid hít hầu như không độc, có thể dùng lâu dài ổn định bệnh, được coi là thuốc chủ lực trong điều trị VMDU.

Về kỹ thuật dùng thuốc

Dạng hít tính liều theo nhát xịt (như corticoid hít). Không đưa đầu ống xịt vào sâu trong mũi mà chỉ đặt đầu ống xịt ngay đầu mũi để xịt thuốc (dạng giọt, hay phun sương) vào đúng niêm mạc mũi.

Dạng dung dịch nhỏ giọt, tính liều theo giọt (như các dung dịch nhỏ mũi). Dùng hai ngón tay kẹp nhẹ, cho thuốc chảy ra theo giọt, chứ không dùng cả tay hay nhiều ngón bóp mạnh làm thuốc chảy thành dòng, không đếm được, sẽ dẫn đến quá liều. Cần giúp trẻ dùng, vì trẻ dưới 12 tuổi khó thực hiện đúng kỹ thuật nói trên dù rất đơn giản. Dùng không đúng kỹ thuật sẽ không đảm bảo được liều dùng hoặc quá liều, khó đạt hiệu quả, dễ bị ngộ độc.

CHIA SẺ NỘI DUNG

Bình luận