Ngải cứu chữa viêm mũi dị ứng

Cách sử dụng: mỗi ngày làm một lần, lúc sáng sớm hoặc buổi tối sau bữa ăn. Đốt điếu thuốc hơ lên các huyệt 1, 2, 3, 4, 5 (huyệt số 1 là huyệt nằm giữa đỉnh đầu, nơi gặp nhau của hai con đường kéo từ chót hai vành tai lên; huyệt số 2 và 3: nằm trước và sau huyệt số 1 khoảng 2cm; huyệt số 4 và 5: nằm hai bên huyệt số 1, cách mỗi bên ra 2cm).

Khi thời tiết thay đổi, người bệnh viêm mũi dị ứng rất hay gặp các triệu chứng khó chịu như hắt hơi; nghẹt mũi; chảy mũi trong, có khi đục, chảy mũi thường xuyên. Ngoài dùng thuốc tây y, còn có một bài thuốc từ cây ngải cứu cũng giúp điều trị bệnh viêm mũi dị ứng khá hiệu quả.
NGẢI CỨU
 
Cây ngải cứu vừa có hoa, hái lá về phơi trong bóng râm mát, nơi thoáng gió hoặc sấy nhẹ đến khi khô (không phơi ngoài nắng làm giảm chất lượng ). Tán nhỏ lá khô hoặc vò bằng tay liên tục đến khi tơi mềm, loại bỏ gân lá, lấy giấy cuộn thành điếu thuốc, dồn chặt đều, dán hồ để khỏi bung, gấp hai đầu kín để dành dùng dần.
 
Cách hơ: Hơ cách da đầu 1,5 cm, cảm giác dễ chịu, ấm dần một lúc đến khi nóng nhiều đổi sang huyệt khác, luân phiên hơ đều, thời gian từ 15-30 phút. Khi hơ, một tay cầm điếu thuốc, một tay ép tóc sát da đầu để tránh cháy tóc.
 
Liệu trình: Từ 10-15 ngày rồi nghỉ 5-7 ngày là một liệu trình. Nếu sau một liệu trình có kết quả, nên tiếp tục cho đến khi khỏi. Nếu kết quả ít hay không giảm nên chuyển dùng phương pháp khác hoặc kết hợp thêm thuốc uống. Thường sau một liệu trình đã thấy kết quả.
 
Ngải cứu là một cây thuốc được trồng rất phổ biến, còn có tên gọi là ngải diệp, thuốc cứu, cây thuốc cao, ngải cao. Tên khoa học là Artemisia Vulgaris L., thuộc họ cúc Asteraceae.
 
Theo y học cổ truyền, ngải cứu có tính hơi ôn, vị cay, dùng làm thuốc ôn khí huyết, trục hàn thấp. Nhân dân thường dùng ngải cứu chữa chảy máu chức năng tử cung (băng huyết, lậu huyết, bạch đới ở phụ nữ tử cung lạnh), đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều… Cùng với hương phụ, ích mẫu, ngải cứu cũng là vị thuốc thường dùng chữa bệnh phụ nữ.
 
Hạt cải bẹ xanh trị viêm họng
 
Chỉ với nắm hạt cải giã nát hoặc tán bột để đắp, bạn có thể giảm chứng viêm họng, đau lưng, cảm lanh và thậm chí cả tình trạng phạm phòng ở quý ông.
Hạt cải bẹ xanh, theo Đông y, có tính ấm, vị cay, không độc, trị các chứng phong hàn, hen, ho có đờm, viên họng, mụn nhọt, trĩ, thương hàn âm chứng…
 
Viêm họng: Hạt cải bẹ xanh giã nát, hòa với ít nước cho sền sệt, đắp thuốc vào dưới vùng hầu rồi băng lại. Khô thuốc lại thay đợt mới.
 
Đau lưng, xương sống: Hạt cải bẹ xanh một nắm tán bột, hòa với rượu trắng bôi lên chỗ đau cho đến lúc khỏi.
 
Cảm hàn đau hai bên sườn: Hạt cải bẹ xanh giã mịn, hòa nước sền sệt, bôi lên hai mạn sườn.
 
Trúng phong: Hạt cải bẹ xanh một bát con, tán bột, sắc với hai bát giấm đến khi còn nửa bát, bôi dưới góc hàm.
 
Phạm phòng: Hạt cải bẹ xanh một nắm tán nhỏ, hòa chút nước cho sền sệt, đắp vào rốn.
 
Tiêu chảy: Lấy một ít hạt cải bẹ xanh tán mịn, thêm nước cho sền sệt, đắp lên rốn.
 
Trĩ nội, trĩ ngoại: Lấy hạt cải bẹ xanh tán bột mịn, tẩm với ít nước và mật ong, bôi dày vào nơi đau rồi lấy băng dính băng lại. Khi khô thuốc lại bôi đợt mới, làm nhiều lần cho kết quả tốt.

 

CHIA SẺ NỘI DUNG

Bình luận